* Thời cơ “thay máu” cho các tổ chức tín dụng
Những năm trước khi nền kinh tế phát triển nóng và nhanh, các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước muốn đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư nên đã tham dự vào nhiều lĩnh vực như bất động sản, ngân hàng, sản xuất hàng tiêu dùng… nhà băng vốn được coi là lĩnh vực kinh doanh “hot” nên lôi cuốn khá nhiều vốn đầu tư của các đơn vị lớn. Nhưng khi nền kinh tế thế giới và trong nước tăng trưởng chậm lại, thậm chí suy thoái như lúc này, việc thoái vốn ra khỏi ngành nhà băng của các tập đoàn lớn quốc gia là hợp lý và cũng là thực hành đề nghị của Chính phủ (đối với các tập đoàn, tổng công ty quốc gia). Thưa ông, liệu việc thoái vốn bằng cách bán cổ phần của các tập đoàn trên có khả thi trong bối cảnh hiện? Vấn đề không phải là có hay không khả thi thì mới bàn đến việc thực hiện, mà đây là việc làm bức của các “ông lớn” này theo lịch trình của Chính phủ. Mặc dù việc thoái vốn lần này có khả năng làm mất một phần giá trị vốn của quốc gia. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là việc chấp nhận hay không ưng ý mất mát về phía quốc gia có thể là chìa khóa của vấn đề thoái vốn hay không thoái vốn. Vì sao tôi lại nói vậy? Như đã biết, thời kỳ đỉnh cao của thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu của các nhà băng tương đối cao. Nhiều cổ phiếu nhà băng cao gấp 100 lần so với mệnh giá. Chính bởi thế, không ai nghĩ đến một kịch bản xấu như thời điểm này: giá cổ phiếu sụt giảm thảm thương, một số cổ phiếu chỉ còn 10 – 20% trên giá mua vào lúc trước. Nên trong bối cảnh nền kinh tế suy giảm, để có thể thoái vốn buộc các tập đoàn, tổng công ty lớn phải bán với giá thấp hơn giá mua vào rất nhiều. Lý do mất vốn quốc gia là như vậy và đây cũng là cái giá chúng ta phải chấp thuận để tái Cơ cấu nền kinh tế. Song tôi cho rằng vấn đề quan yếu tạo nên sự thành công trong việc thoái vốn đó là không nên quy trách nhiệm hình sự cho những lãnh đạo tổng công ty thoái vốn khi mà mất tài sản của Nhà nước. Nhưng thưa ông, luật pháp quy định rõ người làm thất thoát vốn quốc gia sẽ phải chịu bổn phận hình sự? Ở đây chúng ta phải làm rõ, việc giá cổ phiếu nhà băng xuống thấp khiến giá trị các khoản đầu tư bị “bốc hơi” nhiều khi không phải do lỗi chủ quan từ lãnh đạo của các tập đoàn, tổng công ty gây nên, mà do những biến động của nền kinh tế vĩ mô, thị trường. Do đó, chỉ có thể quy bổn phận hình sự, thương nghiệp cho các lãnh đạo của các đơn vị này khi họ không làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Thí dụ: không cử người dự HĐQT hoặc không sâu sát, giám sát hoạt động ngân hàng mặc dầu là cổ đông lớn; lơi là nghĩa vụ... Chứ nếu thoái vốn thấp hơn giá trị sổ sách rồi quy mất vốn quốc gia, buộc họ chịu nghĩa vụ hình sự, thì tôi nghĩ không có đơn vị nào thoái vốn. Dù ép theo lộ trình thì họ cũng tìm mọi cách trì hoãn. Về phía các nhà băng, ông đánh giá thế nào về tác động của việc thoái vốn, nhất là các cổ đông lớn? Theo tôi, thoái vốn không ảnh hưởng nhiều đến ngân hàng. Vì các nhà đầu tư mua – bán cổ phần theo thỏa thuận trên thị trường thứ cấp, nên không ảnh hưởng đến dòng vốn nội tại nhà băng. Vấn đề ở đây là nhà đầu tư (NĐT) nào đủ tiềm lực tài chính để mua lại số cổ đa số như vậy để tham dự vào quản trị nhà băng. Có thể nói, việc đi tìm NĐT chiến lược có đủ tiềm lực sẽ là bài toán khó khăn lúc này. Thực tiễn hai khối NĐT nội và ngoại có thể giúp các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước thoái vốn, bởi khối NĐT ngoại khả năng tài chính lớn, dễ dàng mua vài chục phần trăm cổ phiếu của một nhà băng lớn. Nhưng, đáng tiếc, ngày nay NĐT ngoại cũng tỏ ra không đặm đà và nhiều NĐT có tiềm năng tài chính lớn này cũng đang đứng ngoài cuộc để chờ thời. Trong khi đó, nền kinh tế nước ta vẫn đang đối mặt với khó khăn, bê trệ nên khả năng đầu tư tài chính của NĐT trong nước cũng giới hạn. Và quan trọng là trong bối cảnh hiện giờ, cổ phiếu ngân hàng cũng không còn quyến rũ nữa. Huyền Thanh Thời báo ngân hàng |
Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013
Thoái vốn không ảnh hưởng nhiều đến ngân hàng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét